TẠI SAO CẦN LÀM CÁC XÉT NGHIỆM KHI MANG THAI?

Những xét nghiệm cần được thực hiện sớm trong thai kỳ

Những xét nghiệm cận lâm sàng sau đây cần được thực hiện sớm trong thai kỳ:

2.1. Tổng phân tích tế bào máu

Tổng phân tích tế bào máu là một trong những xét nghiệm cần thiết khi mang thai giúp đếm số lượng các loại tế bào khác nhau cấu thành nên máu:

Số lượng hồng cầu: Cho biết bệnh nhân có bị thiếu máu hay không.

Số lượng bạch cầu: Tương ứng với khả năng chống lại bệnh tật trong cơ thể

Số lượng tiểu cầu: Liên quan đến vấn đề đông máu.

2.2. Xét nghiệm nhóm máu

Kết quả xét nghiệm nhóm máu khi mang thai cho biết bệnh nhân có yếu tố Rh hay không.

Yếu tố Rh là một loại protein thường hiện diện trên bề mặt hồng cầu. Hầu hết mọi người đều có yếu tố Rh, và những trường hợp này sẽ mang kết quả Rh dương tính (Rh+). Những người không có yếu tố Rh thì sẽ có kết quả Rh âm tính (Rh-). Nếu thai nhi là Rh+ trong khi người mẹ là Rh-, cơ thể của mẹ có thể tạo ra các kháng thể chống lại yếu tố Rh của con. Những kháng thể này sẽ phá hủy các tế bào hồng cầu của thai nhi.

Nhập mô tả ảnh tại đây

Xét nghiệm máu cho biết khả năng thai phụ mắc các vấn đề liên quan đến huyết học

2.3. Xét nghiệm nước tiểu

Xét nghiệm mẫu nước tiểu để phát hiện sự có mặt của tế bào hồng cầu (để xem bệnh nhân có mắc bệnh đường tiết niệu và gây xuất huyết không), tế bào bạch cầu (để xem bệnh nhân có bị nhiễm trùng đường tiết niệu không) và glucose (dấu hiệu của bệnh đái tháo đường).

Ngoài ra, lượng protein trong nước tiểu (protein niệu) cũng được xem xét và so sánh giữa giai đoạn đầu và giai đoạn sau của thai kỳ. Nồng độ protein niệu tăng cao có khả năng là dấu hiệu của tiền sản giật, một trong những biến chứng thai kỳ nghiêm trọng thường xảy ra trong giai đoạn cuối hoặc sau khi em bé chào đời.

2.4. Xét nghiệm rubella

Rubella có thể gây dị tật bẩm sinh cho thai nhi nếu trước đó người mẹ bị nhiễm bệnh trong thai kỳ.

Trong xét nghiệm rubella, bác sĩ sẽ lấy mẫu máu của thai phụ để kiểm tra xem liệu trong máu đã tồn tại kháng thể chống lại căn bệnh này hay chưa. Nếu thai phụ chưa từng bị rubella trước đây hoặc chưa được tiêm phòng, tức đồng nghĩa với việc thai phụ chưa có kháng thể để chống lại rubella. Trường hợp này bà bầu nên tránh bất cứ ai đang mắc bệnh vì khả năng lây lan của rubella khá cao.

Mặt khác, phụ nữ không nên tiêm ngừa rubella khi đang mang thai. Do đó, nếu thai phụ chưa được tiêm vắc-xin ngừa rubella thì nên tiêm sớm sau khi em bé được sinh ra, ngay cả khi đang trong giai đoạn cho con bú.

2.5. Xét nghiệm viêm gan B và viêm gan C

Phụ nữ bị nhiễm virus viêm gan B và viêm gan C khi mang thai có khả năng truyền virus cho thai nhi. Tất cả phụ nữ mang thai đều cần được xét nghiệm nhiễm virus viêm gan B. Còn đối với xét nghiệm virus viêm gan C, nên thực hiện nếu người mẹ có các yếu tố nguy cơ nhất định.

2.6. Xét nghiệm các bệnh nhiễm lây truyền qua đường tình dục

Phụ nữ mang thai cần được làm xét nghiệm bệnh giang mai và chlamydia từ giai đoạn sớm. Bệnh giang mai và chlamydia có thể gây ra biến chứng cho sản phụ và thai nhi. Nếu mắc phải một trong những bệnh này, thai phụ sẽ được điều trị triệt để.

Nếu có các yếu tố nguy cơ của bệnh lậu (phụ nữ dưới 25 tuổi hoặc sống trong khu vực thường gặp bệnh lậu), thai phụ cũng cần được xét nghiệm đối với loại bệnh này.

Nhập mô tả ảnh tại đây

Chlamydia là bệnh lây truyền qua đường tình dục gây nguy hiểm cho thai kỳ

Xét nghiệm HIV là một trong những xét nghiệm cần làm khi mang thai. Nếu phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV, nhiều khả năng cô ấy sẽ truyền virus cho thai nhi. HIV tấn công vào các tế bào của hệ thống miễn dịch và gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS). Trường hợp người phụ nữ đang mang thai và bị nhiễm HIV, bệnh nhân cần được chỉ định dùng thuốc và thực hiện theo đúng hướng dẫn để làm giảm đáng kể nguy cơ lây truyền HIV cho con trong quá trình mang thai, khi chuyển dạ hoặc sinh nở.

2.7. Xét nghiệm lao (TB)

Những thai phụ có nguy cơ mắc bệnh lao cao (ví dụ, phụ nữ bị nhiễm HIV hoặc sống và sinh hoạt gần gũi với người mắc bệnh lao) nên làm xét nghiệm kiểm tra khả năng mắc căn bệnh này.

3. Những xét nghiệm cần làm trong giai đoạn sau của thai kỳ

Các xét nghiệm sau đây cần được thực hiện trong giai đoạn sau của thai kỳ:

3.1. Lặp lại Tổng phân tích tế bào máu

Phụ nữ mang thai cần lặp lại xét nghiệm Tổng phân tích tế bào máu để theo dõi tình trạng sức khoẻ.

 

Nhập mô tả ảnh tại đây

 

3.2. Thử nghiệm dung nạp glucose

Đây là một trong những xét nghiệm cần làm khi mang thai để đo nồng độ glucose (đường) trong máu của sản phụ. Nếu nồng độ glucose quá cao nhiều khả năng người mẹ đã bị tiểu đường thai kỳ. Thử nghiệm dung nạp glucose thường được thực hiện trong khoảng từ tuần 24 đến tuần 28 của thai kỳ. Tuy nhiên, trường hợp sản phụ đã có các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tiểu đường hoặc đã bị tiểu đường thai kỳ trong lần mang thai trước, thử nghiệm có thể phải thực hiện sớm trong ba tháng đầu của thai kỳ.

3.3. Xét nghiệm liên cầu khuẩn nhóm B

Các liên cầu khuẩn nhóm B là một nhóm vi khuẩn sống trong âm đạo và trực tràng của phụ nữ. Nhiều người nhiễm các chủng vi khuẩn này nhưng không biểu hiện bất kỳ triệu chứng nào, song những tác nhân có hại này lại có thể truyền cho thai nhi trong khi sinh.

Hầu hết các em bé bị nhiễm chủng vi khuẩn này từ mẹ đều không gặp vấn đề gì. Tuy nhiên, một số trường hợp có thể dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng, thậm chí gây tử vong ở trẻ sơ sinh. Các liên cầu khuẩn nhóm B thường được phát hiện thông qua xét nghiệm sàng lọc định kỳ trong khoảng tuần thai thứ 35 đến 37.

Nếu kết quả xét nghiệm liên cầu khuẩn nhóm B là dương tính, bác sĩ có thể chỉ định cho thai phụ dùng kháng sinh trong quá trình chuyển dạ sinh con để ngăn ngừa khả năng lây bệnh cho em bé.

4. Xét nghiệm sàng lọc và xét nghiệm chẩn đoán dị tật bẩm sinh ở thai nhi

Xét nghiệm sàng lọc và xét nghiệm chẩn đoán dị tật bẩm sinh ở thai nhi

Xét nghiệm sàng lọc dị tật thai nhi dùng để đánh giá nguy cơ thai nhi có thể mắc phải một số dị tật bẩm sinh phổ biến, liên quan đến rối loạn di truyền. Xét nghiệm sàng lọc không thể cho biết chính xác khả năng thai nhi có thật sự bị dị tật bẩm sinh hay không.

Mặt khác, xét nghiệm chẩn đoán dị tật bẩm sinh có khả năng phát hiện chính xác nhiều dị tật bẩm sinh do sự khiếm khuyết trong gen hoặc nhiễm sắc thể. Xét nghiệm chẩn đoán dị tật thai nhi có thể thực hiện thay cho sàng lọc trong trường hợp cặp vợ chồng có tiền sử gia đình bị dị tật bẩm sinh, thuộc một nhóm dân tộc nhất định có bất thường trong di truyền hoặc trước đó đã có con bị khuyết tật bẩm sinh do di truyền.

Xét nghiệm sàng lọc dị tật bẩm sinh ở thai nhi bắt đầu bằng việc đánh giá các yếu tố nguy cơ của người mẹ. Vào giai đoạn sớm của thai kỳ, trong quá trình thăm khám, bác sĩ sẽ đề cập đến một số yếu tố nguy cơ, chẳng hạn như tiền sử cá nhân hoặc gia đình có người bị dị tật bẩm sinh hay không, tuổi của mẹ từ 35 trở lên, hoặc đã mắc bệnh tiểu đường từ trước.

Các xét nghiệm sàng lọc dị tật bẩm sinh ở thai nhi bao gồm: Siêu âm kết hợp với xét nghiệm máu để đo mức độ của một số cơ chất nhất định trong máu mẹ.

Các xét nghiệm chẩn đoán dị tật bẩm sinh ở thai nhi bao gồm: Chọc ối, sinh thiết gai nhau và siêu âm trúng đích.

Nếu cần tư vấn chi tiết hoặc đăng ký sử dụng dịch vụ, hãy liên lạc ngay theo thông tin bên dưới:

PHÒNG KHÁM 400 SẢN PHỤ KHOA & KHHGĐ

🏨 Cơ sở 1: 400 Hải Thượng Lãn Ông – TPTH.

🏨 Cơ sở 2: 440 Trần Phú – TPTH.

☎️ Hotline: 0919.329.400.

Zalo