Huyết áp cao khi mang thai tháng cuối trong thai kỳ khá phổ biến và có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi nếu không được phát hiện và kiểm soát kịp thời. Vậy làm thế nào để nhận biết sớm tình trạng này?
Vì sao mẹ bầu thường bị cao huyết áp khi mang thai tháng cuối?
Tăng huyết áp thai kỳ (Gestational hypertension) là tình trạng huyết áp tăng cao sau tuần thứ 20 của thai kỳ ở người trước đó có huyết áp bình thường. Theo Hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG), phụ nữ mang thai có chẩn đoán có mức huyết áp bị cao khi huyết áp tâm thu ≥140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥90mmHg đo đúng quy trình tại cơ sở y tế, hai lần đo cách nhau 4 giờ trở lên.
Những thay đổi sinh lý trong thai kỳ, đặc biệt sự tăng thể tích tuần hoàn và sức cản mạch máu ngoại vi khiến mẹ bầu có nguy cơ tăng mức huyết áp ở giai đoạn tam cá nguyệt thứ ba. Ở người có bệnh huyết áp mạn tính (chẩn đoán trước 20 tuần), thai kỳ có thể làm bệnh diễn tiến nặng hơn.
Bác sĩ Quốc Thường cho biết, huyết áp bị tăng trong thai kỳ không kèm theo protein niệu hoặc tổn thương cơ quan đích. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nó có thể tiến triển thành tiền sản giật, là tình trạng nghiêm trọng đặc trưng bởi tăng huyết áp kèm protein niệu hoặc tổn thương đa cơ quan (gan, thận, thần kinh trung ương…), có thể gây nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi.

Huyết áp cao khi mang thai tháng cuối có nguy hiểm không?
Đây là một trong những biến chứng nội khoa thường gặp ở phụ nữ mang thai, ảnh hưởng đến 5-10% phụ nữ trong thai kỳ. Mẹ bầu bị tăng chỉ số huyết áp có thể đối mặt với các nguy cơ sau:
- Đối với mẹ bầu: Có thể diễn tiến thành tiền sản giật, sản giật hoặc đột quỵ. Nguy cơ bong nhau non, suy gan, suy thận, hoặc cần khởi phát chuyển dạ sớm để bảo đảm an toàn cho mẹ và thai.
- Đối với thai nhi: Mẹ bầu tháng cuối bị huyết áp cao có thể khiến thai nhi khó nhận đủ oxy và dinh dưỡng cần thiết để phát triển, điều này buộc mẹ phải sinh non (sinh trước tuần thứ 37 của thai nhi) và trẻ nhẹ cân khi sinh (cân nặng dưới 2,5kg khi sinh ra).
Tiền sản giật là tình trạng huyết áp tăng cao đột ngột sau tuần thứ 20 của thai kỳ, thường xảy ra trong 3 tháng cuối (tam cá nguyệt thứ ba). Tiền sản giật thường bao gồm các dấu hiệu tổn thương một số cơ quan khác như gan hoặc thận, có thể biến chứng nghiêm trọng thậm chí đe dọa tính mạng mẹ và thai nhi.
Nếu tiền sản giật diễn tiến nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến chức năng não có thể gây co giật, hôn mê sâu, tình trạng này gọi là sản giật. Mẹ bầu bị tiền sản giật hoặc sản giật làm tổn thương gan và tế bào máu gọi là hội chứng HELLP (tán huyết, tăng men gan, giảm tiểu cầu) dù hiếm gặp nhưng hội chứng này rất nghiêm trọng.
Huyết áp cao giai đoạn cuối thai kỳ thường đi kèm triệu chứng nào?
Huyết áp vọt cao khi mang thai tháng cuối thường không có triệu chứng, đa số mẹ bầu phát hiện bị huyết áp cao khi kiểm tra huyết áp ở mỗi lần khám thai. Tuy nhiên, nếu tình trạng này tiến triển thành tiền sản giật có thể gây ra các triệu chứng khác, gồm:
- Protein niệu (protein trong nước tiểu tăng).
- Sưng phù ở mặt và tay. Bàn chân cũng có thể bị sưng, nhưng tình trạng này khá phổ biến trong thai kỳ nên không được xem là dấu hiệu điển hình.
- Đau đầu dai dẳng.
- Các vấn đề về thị lực như mắt nhìn mờ hoặc nhìn thấy các đốm sáng.
- Đau ở vùng thượng vị hoặc hạ sườn phải.
- Buồn nôn, nôn, khó thở, mệt mỏi.
- Trường hợp nặng có thể co giật.
Nếu mắc hội chứng HELLP, mẹ bầu có thể dễ bị chảy máu hoặc bầm tím, mệt mỏi cực độ và suy gan.
Kiểm soát huyết áp giai đoạn cuối thai kỳ như thế nào?
Ở mỗi lần khám, mẹ bầu được đo huyết áp, nhịp tim, SpO₂, cân nặng, kết hợp siêu âm thai, monitoring sản khoa (NST) để đánh giá sức khỏe thai nhi.
Nếu huyết áp ≥140/90 mmHg, bác sĩ có thể chỉ định thêm:
- Xét nghiệm máu: men gan, creatinin, tiểu cầu,…
- Xét nghiệm nước tiểu: tìm protein niệu,…
- Đánh giá tăng trưởng thai nhi: siêu âm doppler động mạch rốn, NST, BPP,…
Khi được chẩn đoán tăng huyết áp, mục tiêu điều trị là duy trì huyết áp ổn định, ngăn ngừa tiến triển thành tiền sản giật, đồng thời đảm bảo tuần hoàn nhau thai tốt cho thai nhi.
Bác sĩ sẽ hướng dẫn:
- Theo dõi huyết áp tại nhà, báo ngay khi ≥140/90 mmHg.
- Theo dõi cử động thai, duy trì chế độ nghỉ ngơi, giảm muối, tránh stress.
- Khám thai định kỳ ngắn hơn (mỗi 1–2 tuần hoặc theo chỉ định).
- Dùng thuốc hạ áp an toàn trong thai kỳ khi cần (như labetalol, methyldopa, nifedipine – theo chỉ định bác sĩ).
Lưu ý, tuyệt đối không tự ý dùng thuốc hạ áp ngoài hướng dẫn của bác sĩ vì có thể gây tụt huyết áp và giảm tưới máu thai.
Khi nào cần gặp bác sĩ?
Dù không có triệu chứng, khám thai định kỳ vẫn là cách quan trọng giúp phát hiện sớm tăng huyết áp và phòng ngừa tiền sản giật/sản giật. Mẹ cần đến bệnh viện ngay nếu xuất hiện các triệu chứng như:
- Đau đầu dữ dội, mờ mắt, nhìn đốm sáng.
- Đau vùng gan, buồn nôn, nôn ói nhiều.
- Thai đạp yếu, ít cử động.
- Co giật, khó thở, sưng phù đột ngột.




